Mùn cưa, wooden powder, là phế liệu của gỗ sau khi được gia công, thường mùn cưa được lấy sau công đoạn trà nhám. Mùn cưa được tái chế làm ván ép, làm chất đốt, trồng nấm, phân bón .... Phương pháp thu mùn cưa trong sản xuất gỗ được dùng bằng máy hút bụi. Mùn cưa chia làm hai loại mùn cưa tươi và mùn cưa khô ( độ ầm dưới 15%).
Title
Từ điển có hơn 10.000 từ chuyên ngành gỗ và hình ảnh, video, phần mềm chuyên ngành gỗ. chuyên dùng tìm kiếm, thông tin, vật liệu mới, sản phẩm, ý tưởng, thiết kế, sản xuất, thương mại ngành gỗ...
!doctype>
Top Bar V4
Thứ Tư, 31 tháng 12, 2014
Thứ Ba, 30 tháng 12, 2014
RAY ÂM DƯƠNG
Ray trượt âm dương
KENLIN DRAWER SLIDE
Hướng dẫn lắp đặt ray âm dương
bài viết liên quan
KENLIN DRAWER SLIDE
bài viết liên quan
- Ray trượt
- Ray trượt bi
- Ray trượt gỗ
Labels:
furniture fitting,
furniture hardware,
hardware,
Ngũ kim
Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2014
Thứ Năm, 25 tháng 12, 2014
Màng HD PE FOAM
Màng HD PE Foam là màng loại màng foam có dán một lớp nylon, để làm tăng độ dai và chống va đập tốt hơn màng pe foam thông thương.
![]() |
| Màng HD PE Foam |
Labels:
packing material,
vật tư đóng gói
Thứ Bảy, 20 tháng 12, 2014
Màng PE Foam tráng bạc
Màng PE FOAM tráng bạc là một loại màng PE foam được tráng một lớp bạc độ dày
từ 0,5mm đến 100mm có chức năng: Chống tĩnh điện, Cách nhiệt, Cách âm, Bọc, Đóng gói và Chống thấm, chuyên dùng để Chống ẩm lót ván sàn cho Sàn Gỗ các Khách sạn, Building… chống chầy xước cho các đồ điện tử, linh kiện, hàng mỹ nghệ… chống nóng chống ẩm cho nhà xưởng sản xuất, nhà kho, văn phòng các khu công nghiệp, khu chế xuất,… Bảo ôn cách nhiệt cho các hệ thống điều hoà và phòng lạnh . . ., cách âm chống ồn cho các hệ trần vách của nhà ga, sân bay, trường học, siêu thị, bệnh viện, phòng họp, hội trường, nhà hát, phòng thu, sàn nhảy, Bar, Karaoke v.v..
từ 0,5mm đến 100mm có chức năng: Chống tĩnh điện, Cách nhiệt, Cách âm, Bọc, Đóng gói và Chống thấm, chuyên dùng để Chống ẩm lót ván sàn cho Sàn Gỗ các Khách sạn, Building… chống chầy xước cho các đồ điện tử, linh kiện, hàng mỹ nghệ… chống nóng chống ẩm cho nhà xưởng sản xuất, nhà kho, văn phòng các khu công nghiệp, khu chế xuất,… Bảo ôn cách nhiệt cho các hệ thống điều hoà và phòng lạnh . . ., cách âm chống ồn cho các hệ trần vách của nhà ga, sân bay, trường học, siêu thị, bệnh viện, phòng họp, hội trường, nhà hát, phòng thu, sàn nhảy, Bar, Karaoke v.v..
Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014
VẬT TƯ ĐÁNH BÓNG GỖ
Vật tư đánh bóng là loại vật tư gia công trên bề mặt của gỗ, làm nhắn, bóng, tiếp theo công đoạn sơn. Vật tư đánh bóng gỗ bao gồm các loại như sau: nhám giấy, nhám vải, nỉ, cước ...
Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014
KEO DÁN
Keo dán, tên tiếng anh adhesive, là một số chất nhựa hay cao phân tử. keo dán mà con người đã sử dung từ rất lâu là nhựa, xương ( có tính động vật), keo dán dạng bột ( có tính thực vật). Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, loại keo dán có cao su, nhựa cây tổng hợp là thành phần chính liên tiếp xuất hiện, chủng loại của keo dán đều được mở rộng và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất. Ví dụ: Sau khi dung mạt cưa gỗ vụn phế liệu trộn lẫn tạo thành chất keo dán, được ép thành ván MDF, ván Okan ... áp dụng tương tự như vật để chế biến sợi thủy tinh thành gang thủy tinh vừa đẹp. Đặc biệt Keo dán là vật tư quan trọng trong ngành chế biến gỗ. Đắc điểm các phôi gỗ công nghiệp nhỏ, gỗ hay cong vênh cho nên rất cần keo dán để kết nối các phôi gỗ nhỏ thành mặt bàn, mặt ghế, chân bàn... Keo dán gỗ bao gốm các loại sau: keo gốc dầu, keo gốc nước.
![]() |
| KEO DÁN |
Các loại keo dán khách nhau có đặc tính và phạm vi sử dung khác nhau. Thành phần chủ yếu của keo sữa là polyaxetat etyl, có màu trắng như sữa, được huyên dùng cho ngành chế biến gỗ, giấy.
Các bài liên quan
Chủ Nhật, 14 tháng 12, 2014
TAY NẮM NHÔM
Labels:
furniture fitting,
furniture hardware,
hardware,
Ngũ kim
Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2014
KEO SỮA
Keo sữa thường phân làm hai loại là keo một thành phần hay hai thành phần, dùng trong ngành gỗ có màu trắng đục, là loại keo gốc nước có khả năng kết dính trong môi trường PH trung tính. Chuyên dùng trong ngành công nghiệp chế biến gỗ, dán giấy... được sản xuất phù hợp với các trường hợp ép nguội, ép nóng và ép bằng sóng cao tần. Thời gian đóng rắn nhanh, tạo lực liên kết cao, độ bền ổn định đối với nhiều loại gỗ, kháng nhiệt, kháng nước và kháng dung môi nên không làm gỗ biến dạng, khả năng kết dính và cường độ chịu lực cao, độ bền cao, độ liên kết keo ổn định, thời gian ép ngắn và đóng rắn nhanh ở nhiệt độ thường. Keo sữa thường dùng với xúc tác đễ tạo độ kết dính cao.
接着剤,
Emersion Polymer Isocyanate
接着剤,
Emersion Polymer Isocyanate
Two components (EPI = Emersion Polymer Isocyanate) such as CU series, and single component(PVA = Polyvinyl Acetate & EVA = Ethylene Vynil Acetate)
![]() |
| KEO SỮA |
1. CÔNG DỤNG:
Dùng ghép ngang, ghép tấm, ghép dọc … cho các loại gỗ có tỷ trọng riêng cao, đặc biệt loại gỗ rừng trồng (từ nhóm 3 trở xuống) như: Chò chỉ, Thông, Giỏi, Điều, Xoài, Xoan,... Dùng trong nghành chế biến gỗ nói chung, ván ghép thanh, ván sàn, đồ mộc gia dụng nội ngoại thất. Dùng trong những nơi đòi hỏi chịu lực cao vì khả năng bám dính và liên kết tuyệt vời.
2. HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG:
a) Điều kiện phối trộn:
Keo sữa phối trộn với chất đông cứng (Chất xúc tác) cho đến khi đồng nhất.
Thành phần
|
Tỷ lệ (phần trọng lượng)
|
Keo sữa
|
1.000 gram
|
Xúc tác
|
100 - 150 gram
|
b) Thời gian sống của hỗn hợp : Khi được phối trộn theo tỷ lệ 10%
- Mùa Hè : 60 phút
- Mùa Đông: 90 phút
Tỷ lệ pha keo tùy thuộc vào tính chất của keo, sau khi pha hỗn hợp phải được khuấy cho tới khi đồng nhất, thời gian khuấy từ 02 tới 03 phút.
Hỗn hợp keo sau khi trộn chỉ sử dụng tối đa 60 phút. Sau thời gian này keo sẽ bị phân lớp làm tăng độ nhớt, giảm khả năng liên kết do đó chỉ pha vừa đủ sử dụng trong thời gian trên.
Phết keo trên bề mặt cần ghép ngang, ghép dọc, ghép lamined, ghép khối bằng bàn chải hay con lăn hoặc máy trải keo chuyên dụng khi phết keo phải đảm bảo màng keo mỏng – đều – liên tục. Phết keo cho tới áp mặt không quá 5 phút. Ép hoặc cảo kẹp bắt đầu khi keo còn ướt.
Đặc tính
|
Thông số kỹ thuật
|
- Độ nhớt (250C)
|
9.000 – 10.000 cps
|
- Hàm lượng rắn
|
45 - 50%
|
- Độ ẩm gỗ cho phép
|
10 – 14%
|
- Lượng trải keo (gr/m2)
|
200 – 250
|
- Thời gian ghép
|
30 - 60 phút
|
- Lực ép (kgf/cm2)
|
10 - 25 kgf/cm2
|
- Thời gian tháo cảo
|
30 – 60 phút
|
- Thời gian sử dụng hỗn hợp
|
60 phút ở nhiệt độ 300C
|
Chất lượng ghép của keo phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, loại gỗ, lực ép, độ dày của ván ghép …
3. CÁCH BẢO QUẢN:
- Để keo nơi thoáng mát có nhiệt độ từ 50C – 320C, tránh ánh nắng mặt trời.
- Đậy kín sau khi sử dụng để tránh hơi ẩm bên ngoài.
- Đặt xa tầm tay của trẻ em
- Thời gian bảo quản: 06 tháng.
- Đeo găng tay khi tiếp xúc với keo.
- Rửa sạch bằng xà phòng và nước khi keo dính vào da và quần áo.
- Rửa sạch đồ chứa keo, dụng cụ trải keo và bàn chải sau khi dùng.
- Trộn đều trước khi sử dụng
4. ĐÓNG GÓI :
- Thùng phuy 200 kg
- Can nhựa 25 kg
- Bồn 1.200 kg
Xúc tác:
- Thùng phuy 250 kg
- Can nhựa 5 kg đến 30 kg
Các loại keo dán và hóa chất dùng trong ngành gỗ
- Keo AB
- Keo nhiệt
- Keo 502
- Keo sữa
- Keo sữa Cu70
- Keo sữa CH42
- Xúc tác kéo sữa
- Keo vàng
- Keo chốt mộng
- Keo dán Veneer
- Keo dán giấy
- Keo dán gỗ
- Bột trám chét
Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014
GỖ TRAI
Gỗ Trai hay trai lí, trai nam bộ (danh pháp hai phần: Fagraea fragrans) là cây thường xanh lớn, loài bản địa của Đông Nam Á. Danh pháp đồng nghĩa là Fagraea cochinchinensis, Cyrtophyllum giganteum và Cyrtophyllum peregrinum, thuộc tông Potalieae của họ Gentianaceae (tông này trong các tài liệu cũ được tách ra thành họ Potaliaceae – họ Lậu bình).
Cây cao từ 10 m đến 25 m. Lá hình trứng, sáng màu. Hoa màu vàng nhạt với mùi thơm đặc trưng, quả có vị đắng, thường là thức ăn của các loài chim và dơi. Gỗ trai màu vàng, rất cứng, được coi là loại gỗ quý Vỏ cây và lá chữa sốt rét và lị. Lá cây còn có thể chữa ghẻ
Thứ Năm, 11 tháng 12, 2014
GỖ NGỌC AM
Trên thế giới Việt nam là nơi duy nhất có Ngọc am . Ở việt nam nới duy nhất tìm thấy ngọc Am là Hà giang một tỉnh biên giới phía bắc cách Hà nội 300 km . Ở Hà giang muốn khai thác ngọc am phải leo lên dãy núi hiểm chở có độ cao 1000 m so với mục nước biển có tên là dãy Hoàng Su phì …. Nguồn cung cấp Gỗ Ngọc am cho thị trường từ những Bà con người dân tộc . Họ vào sâu trong nhưng hẻm núi các bờ vực đào bới những gốc rễ tàn tích của những thân cây bị đốn hạ từ vài chục tới vài trăm năm trước . Nguồn cung cấp thứ hai từ nhưng tay Thợ Săn Gỗ chuyên Cơm nắm Muối vừng đi sâu vào những Thôn Bản hẻo lánh thu mua những vật dụng gia đình như Chầy giã Gạo cán cuốc cán Xẻng tay vin cầu v. v
Gỗ Ngoc am thuộc họ Hoàng Đàn cũng có tên thường gọi là Hoàng đàn Rủ Về giá trị Ngọc am kém nhiều so với Hoàng đàn chính thống vốn dĩ chỉ sinh sống ở miền núi đá Lạng sơn giá 2 triệu 1 kg . với Ngọc am thời điểm hiện tại giá dao động từ 70 tới 150 nghìn 1 kg tùy thuộc vào khẩu độ to nhỏ gỗ có lục lạc hay nhiều khuyết tật …. Ưu điểm chung của cả hai loại là mùi hương thơm lưu giữu rất lâu . nếu Gỗ còn nhiều nhựa khi làm xong tác phẩm sẽ có lớp tuyết trắng muốt để ra ánh nắng sẽ phản chiếu màu sắc rực rỡ như cầu vồng .
Để phân biệt giữa Hoàng dàn chính thống và Hoàng Đàn Rủ (Ngọc Am) Mùi thơm Hoàng đàn chính thống ngọt ngào quyến dũ tuyết thì dầy mịn như bột gạo còn Ngọc am mùi hương hơi hắc và gắt tuyết thì dài như sợi mỳ chính . về màu sắc .( Hoàng )nghĩa hán Việt là màu vàng , cả 2 loại gỗ đều có màu vàng nhưng hoàng đàn chính thống màu vàng tươi như gỗ Mít còn Ngoc am vàng nhạt và sỉn màu hơn ngọc am cũng nứt răm nhiều hơn Hoàng Đàn chinh thống khi Gỗ để trong môi trường khô hanh . Từ thời Vua chúa Ngọc am đã là loại Gỗ quý chuyên phục vụ trong Cung đình cho nên nó được san lùng ráo riết . Cho tới thời điểm này gần như đã tuyệt diệt . Nó thuộc nhóm gỗ 1 A là nhóm sách Đỏ quý hiếm…
Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014
GỖ PƠ MU
Pơ mu là cây thân gỗ lá thường xanh, cao 25–30 m. Cây có vỏ màu ánh nâu-xám dễ bị tróc khi cây còn non. Ở những cây già hơn, trên vỏ có các vết nứt theo chiều dọc, có mùi thơm. Các lá được sắp xếp trong các hệ thống cành nhánh nhỏ bằng phẳng, với các nhánh cây nhỏ nằm trên một mặt phẳng. Lá trên các cây trưởng thành mọc thành các cặp chéo chữ thập đối, các cặp so le không cách nhau đều đặn vì thế chúng biểu hiện như là các vòng xoắn 4 trên cùng một mức; chúng hơi sắc, dài khoảng 2–5 mm, phía trên xanh sẫm với các dải khí khổng màu trắng phía dưới. Các lá ở phần bên có dạng hình trứng và bị nén, còn các lá mặt có dạng mác ngược với đỉnh tam giác.
Trên các cây non thì các lá lớn hơn, dài tới 8–10 mm và rộng 6 mm.Các nón đực có hình trái xoan hoặc hình trụ, dài khoảng 2,5 mm, phần cuối trên chồi cây. Chúng có từ 3 đến 5 cặp vảy bắc. Các nón cái lớn hơn nhiều, dài 15–25 mm và rộng 14–22 mm, dạng hình cầu hay gần như hình cầu và chín vào năm thứ hai. Chúng có 5-8 cặp vảy bắc. Trên mỗi vảy bắc có 2 hạt có cánh. Các hạt dài khoảng 4 mm, có góc cạnh và đầu nhọn. Trên các mặt trên và dưới có 2 chỗ phồng lớn chứa nhựa. Các cánh ở hai bên và không đều nhau. Loài cây này không chịu được bóng râm, và cần có khí hậu mát mẻ, nhiều mưa. Nó mọc trên các loại đất ẩm trong các khu vực miền núi. Tại Việt Nam, nó mọc trên các địa hình đất đá vôi hay đất nguồn gốc granit từ độ cao 900 m trở lên.
Thứ Ba, 9 tháng 12, 2014
GỖ THỦY TÙNG
Thủy tùng hay thông nước (tên khoa học Glyptostrobus pensilis) là loài thực vật duy nhất còn tồn tại thuộc chi Glyptostrobus. Đây là loài đặc hữu của vùng cận nhiệt đới đông nam Trung Quốc, từ tây Phúc Kiến tới đông nam Vân Nam, và cũng hiện diện ở miền Nam Việt Nam.
Đặc điểm
Cây gỗ trung bình đến to, thân cao đến 30m hay hơn, đường kính thân 0,6 – 1m hay hơn. Vỏ dày, hơi xốp, màu xám, nứt dọc. Cây có rễ khí sinh không bị ngập, phát sinh từ rễ bên, cao 30cm, mọc lan xa cách gốc tới 6-7 m. Cây rụng lá, có tán hình nón hẹp. Lá có 2 dạng: ở cành dinh dưỡng có hình dùi, dài 0,6-1,3 cm, xếp thành 2-3 dãy và rụng vào mùa khô, ở cành sinh sản có hình vảy, dài 0,4 cm và không rụng. Nón đơn tính, cùng gốc, mọc riêng rẽ ở đầu cành.
Nón cái hình quả lê, mỗi vảy mang 2 noãn. Sau khi thụ tinh các vảy hóa gỗ và dính nhau ở gốc tạo thành một nón dài 1,8 cm, rộng 1,2 cm với các vảy gần như liền nhau 7 – 9 mũi nhọn hình tam giác, hơi uốn cong ra phía ngoài. Mỗi vảy mang 2 hạt, hình trứng, dài 13 mm, rộng 3 mm, mang cánh hướng xuống dưới. Loài này có nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên vì bị khai khác quá mức do gỗ không bị mối mọt, cong vênh, thớ gỗ mịn, và có mùi thơm.
Phân bố
Chi Glyptostrobus đã từng phủ một vùng rộng lớn hầu như khắp bán cầu Bắc, vào thế Paleocen. Hóa thạch cổ nhất biết đến là vào kỷ Creta, tìm thấy ở Bắc Mỹ. Chúng đóng góp rất lớn trong việc hình thành các đầm lầy than đá vào đại Tân Sinh. Vào trước và trong thời kỳ Băng hà, mật độ phân bố của chúng đã thay đổi, chỉ còn lại như ngày nay.
Ở Việt Nam, hoá thạch loài này thường gặp ở đầm lầy Lai Châu, Đồng Giao, Đắk Lắk. Riêng ở Đắk Lắk còn 2 quần thể Thủy tùng tự nhiên duy nhất ở Việt nam và cả trên thế giới ở huyện là Ea H’leo và Krông Năng hiện đã được khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt.
Thứ Hai, 8 tháng 12, 2014
GỖ GÙ HƯƠNG
Gỗ Gù Hương, hay còn gọi là Cây xá xị còn được gọi là vù hương, rè hương, cô châu, canh châu, có tên khoa học: cinnamomum parthenoxylon meissn, thuộc họ long não (lauraceae).
Cái tên xá xị chỉ mới được nhân dân các tỉnh phía Nam nước ta đặt ra vào thời gian gần đây vì thấy cây có tinh dầu, gỗ thân và gỗ rễ có mùi giống như mùi nước uống xá xị (salseparreille) đóng chai nhập của Mỹ hay Pháp (bao gồm các vị thổ phục linh, cam thảo, tinh dầu tiểu hồi…).
Cây xá xị là một loại gỗ cao 12-19m, thân hình trụ, nhẵn bóng, lá dài 12-18cm, rộng 5-7cm, hoa trắng hơi có mùi thơm, mọc thành ngù ít hoa, quả mọng hình cầu. Ở nước ta, xá xị mọc nhiều từ Quảng Trị trở vào, nhất là ở Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Phước.
Trước đây, cây xá xị thường chỉ được khai thác lấy gỗ xây dựng, gần đây nhân dân một số tỉnh phía Nam mới khai thác cất từ vỏ thân và gỗ thân một loại tinh dầu mùi thơm dùng pha nước uống và làm thuốc.
Trong gỗ thân và rễ xá xị có từ 1-2% tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm dịu. Thành phần chủ yếu của tinh dầu là safrol với tỉ lệ 75%.
Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2014
GỖ MUN SỪNG
Gỗ Mun sừng là tài sản đặc hữu của vùng rừng núi tỉnh Khánh hòa . Gỗ Mun sừng gần như tiệt chủng hoàn toàn nên hầu như kg tìm thấy gỗ hộp trên thị trường đa phần chúng được tìm thấy dưới dang lũa nên đa phần những tác phẩm từ mun được chế tác đây vài chục vài trăm năm mới tìm thấy nguyên vẹn hoàn hảo còn phần đa ở những tác phẩm mới làm vài năm chở lại đều có một vài lỗi chắp vá ghép ít hoặc nhiều .
Ở gỗ mun sừng ưu điểm là đường ghép nối gần như không phát hiện ra vì chúng kg có vân …Nói Mun sừng không vân chỉ đúng 1 phần vì thực tế vân mun sừng rất đẹp và chi tiết nét tương tự như gỗ Pơ mu khi mới chế tác vân xuất hiên vằn vện chi chít thay vì mầu đen vân và gỗ có mau xanh sắc vàng giống màu Cứt Ngựa .
Sau thời gian khoảng 1 tuần lớp vân mờ dần và mất hẳn sắc xanh vàng chuyển mà sang đen bóng … 90% gỗ Mun Sừng có lang trắng . Làng này được hình thành từ lúc cây còn nhỏ thường lộn vào giữa thân Gỗ . Trong điêu khắc nếu tình cờ do may hoặc vô tình đặt được điểm lang trắng vào toàn bộ khuân Mặt pho Tượng đó có tên chuyên môn là ( Bạch diện ).
Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014
GỖ HUỲNH ĐÀN
Gỗ Huỳnh đàn hay còn gọi là sưa bắc bộ, gỗ sưa hoặc trắc thối (do quả có mùi thối), cẩm lai Bắc Bộ, huê mộc vàng (danh pháp khoa học: Dalbergia tonkinensis) là một loài cây thân gỗ thuộc họ Đậu (Fabaceae). Nó được tìm thấy rải rác tại Hải Nam, Trung Quốc (tại đây gọi nó là 越南黄檀 – hoàng (huỳnh) đàn Việt Nam) và Bắc Bộ, Việt Nam. Hiện nay, nó là loài đang bị đe dọa do mất mất môi trường sống
Là cây gỗ lớn, lá thường xanh có thể cao tới 10-15 m, sinh trưởng trung bình, thân màu vàng nâu hay xám, nứt dọc. Lá dài 9-20 cm; cuống không lông; lá kèm sớm rụng, nhỏ, có lông nhỏ mịn và thưa, màu nâu vàng. Các cuống nhỏ không lông; số lá chét 5-9, với lá chét tận cùng thường là to nhất, hình trứng hay hơi thuôn dài, nhẵn, chất da, có lông mịn lơ thơ khi non, nhanh chóng chuyển thành không lông, gốc lá chét tròn, nhọn mũi. Cụm hoa dạng chùy, mọc ở nách lá, khoảng
5-15 cm. Hoa trắng có đài hợp, thơm. Quả dạng quả đậu hình trứng thuôn dài, dài 5-6 cm, rộng khoảng 1 cm và chứa 1-2 hạt dạng bầu dục, đường kính khoảng 9 mm. Cành non màu xanh có đốm bì khổng màu trắng. Hoa ra tháng 4-7. Quả chín thu hoạch tháng 11-12.
Gỗ trắc thối cho mùi thơm quyến rũ thoảng nhẹ kiểu hương trầm. Khi đốt tàn có màu trắng đục.
Sử dụng
Gỗ trắc thối chỉ dùng phần lõi những cây trên trăm tuổi. Gỗ sưa thớ mịn, vừa cứng lại vừa dẻo, có nhiều hoa văn đẹp. Thời phong kiến vua chúa dùng gỗ trắc thối để đóng đồ nội thất cao cấp trong cung đình vì nó vừa là hương liệu vừa là dược liệu. Những năm gần đây, giới nhà giàu Trung Quốc đổ xô săn lùng trắc thối để đóng quan tài hoặc ướp xác như các vị hoàng đế Trung Quốc trước đây. Người ta cho là quan tài đóng bằng gỗ trắc thối có khả năng giữ được xác lâu, không bị phân hủy. Ngoài ra, cây trắc thối thường gắn với các điển tích của Phật giáo, do đó ngày nay người ta làm những xâu tràng hạt với giá vài nghìn USD.
Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014
GỖ TRẮC
Gỗ Trắc là tên riêng chỉ loài cây Dalbergia cochinchinensis, đôi khi cũng được gọi chung cho tên chi. Loài trắc còn có tên khác là cẩm lai Nam Bộ. Tính từ cochinchinensis là chỉ xuất xứ Nam Kỳ của xứ Đông Dương thuộc Pháp cũ.
Cây gỗ lớn, cao 25 mét, đường kính có thể tới 1m, gốc thường có bạnh vè. Vỏ nhẵn, màu xám nâu, nhiều xơ, vết đẽo dầy màu vàng nhạt sau đỏ nâu. Cành nhiều, cành non mảnh nhẵn, lốm đốm nốt sần. Lá kép lông chim 1 lần mọc cách, dài 15–20 cm. Cuống lá dài 10–17 cm mang 7-9 lá chét. Lá chét hình trái xoan đầu nhọn dần, có mũi lồi ngắn. Hoa tự hình chùm hoặc xim viên chùy ở nách lá, các lá bắc sớm rụng. Hoa lưỡng tính, không đênu; đài hợp gốc, đỉnh xẻ 5 thùy, tràng hoa màu trắng. Nhị có cong thức 9+1. Quả đậu mỏng, dài 5–6 cm, rộng 1 cm, mang 1-2 hạt màu nâu, hạt nổi gồ ở quả.
Cây trắc phát triển tương đối chậm. Lúc nhỏ thì chịu bóng, lớn lên ưa sáng. Cây mọc rải rác trong rừng, thường xanh hoặc nửa rụng lá. Cây trắc mọc ở những nơi có độ cao tuyệt đối không quá 500m. Vào mùa khô, trắc rụng lá nhưng dễ nảy chồi mới.
Loài cây này được tìm thấy tại Campuchia, Lào, Thái Lan, và Việt Nam.
Ở Việt Nam, cây mọc rải rác ở Quảng Nam (Hiên, Giằng, Phước Sơn), Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế trở vào Nam, nhiều nhất ở Kon Tum (Đắc Tô, Sa Thầy).
Có giá trị trong nghiên cứu bảo tồn gen. Lấy gỗ.
Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014
GỖ NU
Theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt thì Gỗ Nu là gỗ có vân xoăn đẹp ở bướu to của một số cây gỗ quý, dùng làm bàn nghế, đồ mỹ nghệ. Gỗ Nu còn có những cách gọi khác nhau là : núm, nụm. Thực chất đây là sự phát triển riêng biệt của loài cây thân gỗ, khi cây gỗ bị thương tật như sâu bệnh, sét đánh, chặt chem., làm xây xước thân cây… lúc đó cây sẽ sinh ra chất dinh dưỡng đồn tích để nuôi dưỡng phần bị thương tật ấy lành trở lại. Do đặc điểm sinh lý và lý do bảo tồn sự phát triển tự nhiên của cơ thể sống mà dinh dưỡng hấp thu được từ đất, không khí đã tập trung với mức độ cao vào những nơi thương tật làm cho nó phát triển khác thường với những nơi khác. Vì thế mà chỗ thương tật phình ra thành bươu, mức độ lớn của bươu phụ thuộc vào khả năng hấp thụ dinh dưỡng, thời gian sinh trưởng của cây. Thường thì bướu có đường kính to hơn đường kính thân cây chủ. Nói thế không có nghĩa là muốn có nu thì tạo ra thương tích trên cây là được. Thực tế là tỷ lệ thành bướu rất thấp, có khi hàng trăm cây mới được một cây có nu, quá trình hình thành bươu tạo ra ni giống như trầm hương trên thân cây đó.
Ngày xưa khi người Pháp đến Việt Nam, họ đã biết tiềm năng nu gỗ của núi rừng nhiệt đới nước ta, họ bắt đầu tiến hành chương trình trồng cây gỗ để có thu hoạch nu vào thời gian 60 năm sau. Đầu tiên họ chọn những cây gỗ có đường kính từ 30 đến 40 cm cưa ngang mặt đất, chờ cây mọc chồi, chặt bỏ để lại 1 đến 2 chồi. Năm sau lại chặt bỏ chồi cũ giữ chồi mới, cứ thế liên tiếp trong nhiều năm, cây không chết nhưng cũng không sống bình thường được làm cho bươu phải phình ra to dần lên, trong đó là những nếp sinh trưởng không tuân theo chu trình giống vòng lõi của thân cây, mà là sự quặn thắt nhiều chiếu, không có trật tự cố định để tạo nên những vân thở khác nhau thường như hoa văn mỹ thuật đến bất ngờ, tuyệt mỹ. Nếu vẻ đẹp của vân lôi các loại gỗ là những nét màu sắc đậm nhạt theo quy luật nhất định được hình thành trên từng giai đoạn phát triển của cây, thi thoảng có chút bất ngờ nơi chia cành hoặc u bướu…thì với nu gỗ là vô vàn những nét vẽ siêu hạng, ngấu hứng của thiên nhiên.
Cũng chính vì sự phát triển sinh trưởng không tuân theo chu trình giống vòng lõi của thân cây, mà là sự quặn thắt nhiều chiều, không có trật tự cố định để tạo nên những vân thớ khác thường như hoa văn mỹ thuật đến bất ngờ, tuyệt mỹ. Nếu vẻ đẹp của vân lõi các loại gỗ là những nét màu sắc đậm nhạt theo quy luật nhất định được hình thành trên từng giai đoạn phát triển của cây, thi thoảng có chút bất ngờ nơi chia cành hoặc u bướu… thì với nu gỗ là vô vàn những họa tiết ngay trên một mặt cắt nhỏ, vân gỗ là những nét vẽ siêu hạng, ngấu hứng của thiên nhiên.
Cũng chính vì sự phát triển sinh tồn tập trung toàn bộ tính chất vào nơi xung yếu (thương tích) cần được nuôi dưỡng mà cũng đồng thời tạo nên sự cứng rắn của vật thể, khác hẳn với vật thể gỗ bình thường. Vân tạo thành đã không theo thớ lại có độ cứng rất cao nên quá trình chế tác nu gỗ là hết sức phức tạp, may mà ngày nay đã có máy móc trang bị trong một số công đoạn như đục, mài…thay cho thủ công. Giá nhân công làm trên chất liệu gỗ nu phải đắt gấp hai đến ba lần gỗ thường cùng một sản phẩm. Nếu làm bằng thủ công, số lượng đục cũng phải hỏng mất hàng chục cái sau một tác phẩm, cho dù đó phải là đục của làng rèn Đa Sĩ mới đủ sắc bén gọt gỗ nu.
Nu nếu để nguyên mộc thì những nét vân huyền bí không nổi lên hết được mà cũng phải xử lý bằng nhiều phương pháp khác nhau tùy theo nu gỗ gì. Với gỗ nói chung, dù bất kỳ gỗ quý nào được chọn để chạm khắc làm đồ mỹ nghệ. Theo kinh nghiệm xưa, người ta đem gỗ phơi sương, nghĩa là đêm phơi ngoài sương, ngày phơi trong bóng dâm, phơi đi phơi lại trong nhiều tháng trời cho đến khi nước tự nhiên trong nhiều tháng trời cho đến khi nước tự nhiên trong gỗ khô kiệt đi, khi ấy sự co ngót hoặc nứt nẻ không thể sảy ra được nữa mới thôi. Ngày nay để rút ngắn thời gian chế tác, người ta dùng phương pháp khoa học công nghệ mới là đưa vào lò sấy khô. Làm như thế không thể bằng phương pháp phơi sương. Nu khô đem chế tác lại phải chọn kiểu vần thớ cho phù hợp với yêu cầu của tác phẩm như bàn ghế, tượng, hay đồ trang trí.
Vẻ đẹp của nu không chỉ riêng những vân, thớ tạo tác bất ngờ và bắt sáng lại nổi lên như điêu khắc dù mặt nhẵn bóng, cả vùng biên ngoài cũng sẵn lên tận những nốt, u, hang hốc tự nhiên và trơ lạnh nét thời gian như đá. Nu càng dày thì vẻ đẹp càng rõ rang hơn. Có thể nói nu là những siêu phẩm gỗ với những sắc màu khác nhau và kiểu vặn mình “thêu hoa dệt gấm” đã làm cho những sản phẩm gỗ trở nên có giá trị vô cùng to lớn. Toàn bộ đồ gỗ trong nột thất dinh 3 của ông Hoàng Bảo Đại tại Đà Lạt đều được làm bằng nu. Trải qua năm tháng ngót gần thế kỷ mà các đồ gỗ nu ấy vẫn bóng mày vân, vẫn lộng lẫy như những bức tranh phong thủy nhiều màu sắc.
Ở nước ta, Nu gỗ có ở nhiều miền rừng như Tây Nguyên, Việt Bắc và trên nhiều thứ gỗ từ gỗ xưa, hương, trắc, gụ, lim, căm xe, đến nghiến. Giá trị nhất là nu gỗ xưa, mỗi kg nu gỗ xưa trên thị trường hiện đang có giá trị từ 24 đến 25 triệu đồng.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)




