Top Bar V4

Search Bar v2

Hiển thị các bài đăng có nhãn vật tư chính. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn vật tư chính. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014

KEO DÁN

         Keo dán, tên tiếng anh adhesive, là một số chất nhựa hay cao phân tử. keo dán mà con người đã sử dung từ rất lâu là nhựa, xương ( có tính động vật), keo dán dạng bột ( có tính thực vật). Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, loại keo dán có cao su, nhựa cây tổng hợp là thành phần chính liên tiếp xuất hiện, chủng loại của keo dán đều được mở rộng và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất. Ví  dụ: Sau khi dung mạt cưa gỗ vụn phế liệu trộn lẫn tạo thành chất keo dán, được ép thành ván MDF, ván Okan ... áp dụng tương tự như vật để chế biến sợi thủy tinh thành gang thủy tinh vừa đẹp. Đặc biệt Keo dán là vật tư quan trọng trong ngành chế biến gỗ. Đắc điểm các phôi gỗ công nghiệp nhỏ, gỗ hay cong vênh cho nên rất cần keo dán để kết nối các phôi gỗ nhỏ thành mặt bàn, mặt ghế, chân bàn...  Keo dán gỗ  bao gốm các loại sau: keo gốc dầu, keo gốc nước.  


KEO DÁN
KEO DÁN
          
        Các loại keo dán khách nhau có đặc tính và phạm vi sử dung khác nhau. Thành phần chủ yếu của keo sữa là polyaxetat etyl, có màu trắng như sữa, được huyên dùng cho ngành chế biến gỗ, giấy. 
       
 
     Các bài liên quan
  1. Keo AB
  2. Keo nhiệt
  3. Keo 502
  4. Keo sữa
  5. Keo vàng
  6. Keo 1 thành phần
  7. Keo 2 thành phần
  8. Keo chốt mộng
  9. Keo dán Veneer
  10. Keo dán giấy
  11. Keo dán gỗ
  12. Bột trám chét

Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

GỖ TRAI


Gỗ Trai hay trai lí, trai nam bộ (danh pháp hai phần: Fagraea fragrans) là cây thường xanh lớn, loài bản địa của Đông Nam Á. Danh pháp đồng nghĩa là Fagraea cochinchinensis, Cyrtophyllum giganteum và Cyrtophyllum peregrinum, thuộc tông Potalieae của họ Gentianaceae (tông này trong các tài liệu cũ được tách ra thành họ Potaliaceae – họ Lậu bình). 
Cây cao từ 10 m đến 25 m. Lá hình trứng, sáng màu. Hoa màu vàng nhạt với mùi thơm đặc trưng, quả có vị đắng, thường là thức ăn của các loài chim và dơi. Gỗ trai màu vàng, rất cứng, được coi là loại gỗ quý Vỏ cây và lá chữa sốt rét và lị. Lá cây còn có thể chữa ghẻ

Thứ Năm, 11 tháng 12, 2014

GỖ NGỌC AM

Trên thế giới Việt nam là nơi duy nhất có Ngọc am . Ở việt nam nới duy nhất tìm thấy ngọc Am là Hà giang một tỉnh biên giới phía bắc cách Hà nội 300 km . Ở Hà giang muốn khai thác ngọc am phải leo lên dãy núi hiểm chở có độ cao 1000 m so với mục nước biển có tên là dãy Hoàng Su phì …. Nguồn cung cấp Gỗ Ngọc am cho thị trường từ những Bà con người dân tộc . Họ vào sâu trong nhưng hẻm núi các bờ vực đào bới những gốc rễ tàn tích của những thân cây bị đốn hạ từ vài chục tới vài trăm năm trước . Nguồn cung cấp thứ hai từ nhưng tay Thợ Săn Gỗ chuyên Cơm nắm Muối vừng đi sâu vào những Thôn Bản hẻo lánh thu mua những vật dụng gia đình như Chầy giã Gạo cán cuốc cán Xẻng tay vin cầu v. v
Gỗ Ngoc am thuộc họ Hoàng Đàn cũng có tên thường gọi là Hoàng đàn Rủ Về giá trị Ngọc am kém nhiều so với Hoàng đàn chính thống vốn dĩ chỉ sinh sống ở miền núi đá Lạng sơn giá 2 triệu 1 kg . với Ngọc am thời điểm hiện tại giá dao động từ 70 tới 150 nghìn 1 kg tùy thuộc vào khẩu độ to nhỏ gỗ có lục lạc hay nhiều khuyết tật …. Ưu điểm chung của cả hai loại là mùi hương thơm lưu giữu rất lâu . nếu Gỗ còn nhiều nhựa khi làm xong tác phẩm sẽ có lớp tuyết trắng muốt để ra ánh nắng sẽ phản chiếu màu sắc rực rỡ như cầu vồng .
Để phân biệt giữa Hoàng dàn chính thống và Hoàng Đàn Rủ (Ngọc Am) Mùi thơm Hoàng đàn chính thống ngọt ngào quyến dũ tuyết thì dầy mịn như bột gạo còn Ngọc am mùi hương hơi hắc và gắt tuyết thì dài như sợi mỳ chính . về màu sắc .( Hoàng )nghĩa hán Việt là màu vàng , cả 2 loại gỗ đều có màu vàng nhưng hoàng đàn chính thống màu vàng tươi như gỗ Mít còn Ngoc am vàng nhạt và sỉn màu hơn ngọc am cũng nứt răm nhiều hơn Hoàng Đàn chinh thống khi Gỗ để trong môi trường khô hanh . Từ thời Vua chúa Ngọc am đã là loại Gỗ quý chuyên phục vụ trong Cung đình cho nên nó được san lùng ráo riết . Cho tới thời điểm này gần như đã tuyệt diệt . Nó thuộc nhóm gỗ 1 A là nhóm sách Đỏ quý hiếm…

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014

GỖ PƠ MU

Pơ mu là cây thân gỗ lá thường xanh, cao 25–30 m. Cây có vỏ màu ánh nâu-xám dễ bị tróc khi cây còn non. Ở những cây già hơn, trên vỏ có các vết nứt theo chiều dọc, có mùi thơm. Các lá được sắp xếp trong các hệ thống cành nhánh nhỏ bằng phẳng, với các nhánh cây nhỏ nằm trên một mặt phẳng. Lá trên các cây trưởng thành mọc thành các cặp chéo chữ thập đối, các cặp so le không cách nhau đều đặn vì thế chúng biểu hiện như là các vòng xoắn 4 trên cùng một mức; chúng hơi sắc, dài khoảng 2–5 mm, phía trên xanh sẫm với các dải khí khổng màu trắng phía dưới. Các lá ở phần bên có dạng hình trứng và bị nén, còn các lá mặt có dạng mác ngược với đỉnh tam giác.
Trên các cây non thì các lá lớn hơn, dài tới 8–10 mm và rộng 6 mm.Các nón đực có hình trái xoan hoặc hình trụ, dài khoảng 2,5 mm, phần cuối trên chồi cây. Chúng có từ 3 đến 5 cặp vảy bắc. Các nón cái lớn hơn nhiều, dài 15–25 mm và rộng 14–22 mm, dạng hình cầu hay gần như hình cầu và chín vào năm thứ hai. Chúng có 5-8 cặp vảy bắc. Trên mỗi vảy bắc có 2 hạt có cánh. Các hạt dài khoảng 4 mm, có góc cạnh và đầu nhọn. Trên các mặt trên và dưới có 2 chỗ phồng lớn chứa nhựa. Các cánh ở hai bên và không đều nhau. Loài cây này không chịu được bóng râm, và cần có khí hậu mát mẻ, nhiều mưa. Nó mọc trên các loại đất ẩm trong các khu vực miền núi. Tại Việt Nam, nó mọc trên các địa hình đất đá vôi hay đất nguồn gốc granit từ độ cao 900 m trở lên.

Thứ Ba, 9 tháng 12, 2014

GỖ THỦY TÙNG

Thủy tùng hay thông nước (tên khoa học Glyptostrobus pensilis) là loài thực vật duy nhất còn tồn tại thuộc chi Glyptostrobus. Đây là loài đặc hữu của vùng cận nhiệt đới đông nam Trung Quốc, từ tây Phúc Kiến tới đông nam Vân Nam, và cũng hiện diện ở miền Nam Việt Nam.
Đặc điểm

Cây gỗ trung bình đến to, thân cao đến 30m hay hơn, đường kính thân 0,6 – 1m hay hơn. Vỏ dày, hơi xốp, màu xám, nứt dọc. Cây có rễ khí sinh không bị ngập, phát sinh từ rễ bên, cao 30cm, mọc lan xa cách gốc tới 6-7 m. Cây rụng lá, có tán hình nón hẹp. Lá có 2 dạng: ở cành dinh dưỡng có hình dùi, dài 0,6-1,3 cm, xếp thành 2-3 dãy và rụng vào mùa khô, ở cành sinh sản có hình vảy, dài 0,4 cm và không rụng. Nón đơn tính, cùng gốc, mọc riêng rẽ ở đầu cành.
Nón cái hình quả lê, mỗi vảy mang 2 noãn. Sau khi thụ tinh các vảy hóa gỗ và dính nhau ở gốc tạo thành một nón dài 1,8 cm, rộng 1,2 cm với các vảy gần như liền nhau 7 – 9 mũi nhọn hình tam giác, hơi uốn cong ra phía ngoài. Mỗi vảy mang 2 hạt, hình trứng, dài 13 mm, rộng 3 mm, mang cánh hướng xuống dưới. Loài này có nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên vì bị khai khác quá mức do gỗ không bị mối mọt, cong vênh, thớ gỗ mịn, và có mùi thơm.

Phân bố

Chi Glyptostrobus đã từng phủ một vùng rộng lớn hầu như khắp bán cầu Bắc, vào thế Paleocen. Hóa thạch cổ nhất biết đến là vào kỷ Creta, tìm thấy ở Bắc Mỹ. Chúng đóng góp rất lớn trong việc hình thành các đầm lầy than đá vào đại Tân Sinh. Vào trước và trong thời kỳ Băng hà, mật độ phân bố của chúng đã thay đổi, chỉ còn lại như ngày nay.
Ở Việt Nam, hoá thạch loài này thường gặp ở đầm lầy Lai Châu, Đồng Giao, Đắk Lắk. Riêng ở Đắk Lắk còn 2 quần thể Thủy tùng tự nhiên duy nhất ở Việt nam và cả trên thế giới ở huyện là Ea H’leo và Krông Năng hiện đã được khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt.

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2014

GỖ GÙ HƯƠNG

Gỗ Gù Hương, hay còn gọi là Cây xá xị còn được gọi là vù hương, rè hương, cô châu, canh châu, có tên khoa học: cinnamomum parthenoxylon meissn, thuộc họ long não (lauraceae).
Cái tên xá xị chỉ mới được nhân dân các tỉnh phía Nam nước ta đặt ra vào thời gian gần đây vì thấy cây có tinh dầu, gỗ thân và gỗ rễ có mùi giống như mùi nước uống xá xị (salseparreille) đóng chai nhập của Mỹ hay Pháp (bao gồm các vị thổ phục linh, cam thảo, tinh dầu tiểu hồi…).

Cây xá xị là một loại gỗ cao 12-19m, thân hình trụ, nhẵn bóng, lá dài 12-18cm, rộng 5-7cm, hoa trắng hơi có mùi thơm, mọc thành ngù ít hoa, quả mọng hình cầu. Ở nước ta, xá xị mọc nhiều từ Quảng Trị trở vào, nhất là ở Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Phước.
Trước đây, cây xá xị thường chỉ được khai thác lấy gỗ xây dựng, gần đây nhân dân một số tỉnh phía Nam mới khai thác cất từ vỏ thân và gỗ thân một loại tinh dầu mùi thơm dùng pha nước uống và làm thuốc.
Trong gỗ thân và rễ xá xị có từ 1-2% tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm dịu. Thành phần chủ yếu của tinh dầu là safrol với tỉ lệ 75%.

Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2014

GỖ MUN SỪNG

Gỗ Mun sừng là tài sản đặc hữu của vùng rừng núi tỉnh Khánh hòa . Gỗ Mun sừng gần như tiệt chủng hoàn toàn nên hầu như kg tìm thấy gỗ hộp trên thị trường đa phần chúng được tìm thấy dưới dang lũa nên đa phần những tác phẩm từ mun được chế tác đây vài chục vài trăm năm mới tìm thấy nguyên vẹn hoàn hảo còn phần đa ở những tác phẩm mới làm vài năm chở lại đều có một vài lỗi chắp vá ghép ít hoặc nhiều .
Ở gỗ mun sừng ưu điểm là đường ghép nối gần như không phát hiện ra vì chúng kg có vân …Nói Mun sừng không vân chỉ đúng 1 phần vì thực tế vân mun sừng rất đẹp và chi tiết nét tương tự như gỗ Pơ mu khi mới chế tác vân xuất hiên vằn vện chi chít thay vì mầu đen vân và gỗ có mau xanh sắc vàng giống màu Cứt Ngựa .
Sau thời gian khoảng 1 tuần lớp vân mờ dần và mất hẳn sắc xanh vàng chuyển mà sang đen bóng … 90% gỗ Mun Sừng có lang trắng . Làng này được hình thành từ lúc cây còn nhỏ thường lộn vào giữa thân Gỗ . Trong điêu khắc nếu tình cờ do may hoặc vô tình đặt được điểm lang trắng vào toàn bộ khuân Mặt pho Tượng đó có tên chuyên môn là ( Bạch diện ).

Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014

GỖ HUỲNH ĐÀN

Gỗ Huỳnh đàn hay còn gọi là sưa bắc bộ, gỗ sưa hoặc trắc thối (do quả có mùi thối), cẩm lai Bắc Bộ, huê mộc vàng (danh pháp khoa học: Dalbergia tonkinensis) là một loài cây thân gỗ thuộc họ Đậu (Fabaceae). Nó được tìm thấy rải rác tại Hải Nam, Trung Quốc (tại đây gọi nó là 越南黄檀 – hoàng (huỳnh) đàn Việt Nam) và Bắc Bộ, Việt Nam. Hiện nay, nó là loài đang bị đe dọa do mất mất môi trường sống

Là cây gỗ lớn, lá thường xanh có thể cao tới 10-15 m, sinh trưởng trung bình, thân màu vàng nâu hay xám, nứt dọc. Lá dài 9-20 cm; cuống không lông; lá kèm sớm rụng, nhỏ, có lông nhỏ mịn và thưa, màu nâu vàng. Các cuống nhỏ không lông; số lá chét 5-9, với lá chét tận cùng thường là to nhất, hình trứng hay hơi thuôn dài, nhẵn, chất da, có lông mịn lơ thơ khi non, nhanh chóng chuyển thành không lông, gốc lá chét tròn, nhọn mũi. Cụm hoa dạng chùy, mọc ở nách lá, khoảng
 5-15 cm. Hoa trắng có đài hợp, thơm. Quả dạng quả đậu hình trứng thuôn dài, dài 5-6 cm, rộng khoảng 1 cm và chứa 1-2 hạt dạng bầu dục, đường kính khoảng 9 mm. Cành non màu xanh có đốm bì khổng màu trắng. Hoa ra tháng 4-7. Quả chín thu hoạch tháng 11-12.
Gỗ trắc thối cho mùi thơm quyến rũ thoảng nhẹ kiểu hương trầm. Khi đốt tàn có màu trắng đục.
Sử dụng
Gỗ trắc thối chỉ dùng phần lõi những cây trên trăm tuổi. Gỗ sưa thớ mịn, vừa cứng lại vừa dẻo, có nhiều hoa văn đẹp. Thời phong kiến vua chúa dùng gỗ trắc thối để đóng đồ nội thất cao cấp trong cung đình vì nó vừa là hương liệu vừa là dược liệu. Những năm gần đây, giới nhà giàu Trung Quốc đổ xô săn lùng trắc thối để đóng quan tài hoặc ướp xác như các vị hoàng đế Trung Quốc trước đây. Người ta cho là quan tài đóng bằng gỗ trắc thối có khả năng giữ được xác lâu, không bị phân hủy. Ngoài ra, cây trắc thối thường gắn với các điển tích của Phật giáo, do đó ngày nay người ta làm những xâu tràng hạt với giá vài nghìn USD.

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

GỖ TRẮC

Gỗ Trắc là tên riêng chỉ loài cây Dalbergia cochinchinensis, đôi khi cũng được gọi chung cho tên chi. Loài trắc còn có tên khác là cẩm lai Nam Bộ. Tính từ cochinchinensis là chỉ xuất xứ Nam Kỳ của xứ Đông Dương thuộc Pháp cũ.

Cây gỗ lớn, cao 25 mét, đường kính có thể tới 1m, gốc thường có bạnh vè. Vỏ nhẵn, màu xám nâu, nhiều xơ, vết đẽo dầy màu vàng nhạt sau đỏ nâu. Cành nhiều, cành non mảnh nhẵn, lốm đốm nốt sần. Lá kép lông chim 1 lần mọc cách, dài 15–20 cm. Cuống lá dài 10–17 cm mang 7-9 lá chét. Lá chét hình trái xoan đầu nhọn dần, có mũi lồi ngắn. Hoa tự hình chùm hoặc xim viên chùy ở nách lá, các lá bắc sớm rụng. Hoa lưỡng tính, không đênu; đài hợp gốc, đỉnh xẻ 5 thùy, tràng hoa màu trắng. Nhị có cong thức 9+1. Quả đậu mỏng, dài 5–6 cm, rộng 1 cm, mang 1-2 hạt màu nâu, hạt nổi gồ ở quả.

Cây trắc phát triển tương đối chậm. Lúc nhỏ thì chịu bóng, lớn lên ưa sáng. Cây mọc rải rác trong rừng, thường xanh hoặc nửa rụng lá. Cây trắc mọc ở những nơi có độ cao tuyệt đối không quá 500m. Vào mùa khô, trắc rụng lá nhưng dễ nảy chồi mới.

Loài cây này được tìm thấy tại Campuchia, Lào, Thái Lan, và Việt Nam.
Ở Việt Nam, cây mọc rải rác ở Quảng Nam (Hiên, Giằng, Phước Sơn), Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế trở vào Nam, nhiều nhất ở Kon Tum (Đắc Tô, Sa Thầy).
Có giá trị trong nghiên cứu bảo tồn gen. Lấy gỗ.

Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014

GỖ NU

Theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt thì Gỗ Nu là gỗ có vân xoăn đẹp ở bướu to của một số cây gỗ quý, dùng làm bàn nghế, đồ mỹ nghệ. Gỗ Nu còn có những cách gọi khác nhau là : núm, nụm. Thực chất đây là sự phát triển riêng biệt của loài cây thân gỗ, khi cây gỗ bị thương tật như sâu bệnh, sét đánh, chặt chem., làm xây xước thân cây… lúc đó cây sẽ sinh ra chất dinh dưỡng đồn tích để nuôi dưỡng phần bị thương tật ấy lành trở lại. Do đặc điểm sinh lý và lý do bảo tồn sự phát triển tự nhiên của cơ thể sống mà dinh dưỡng hấp thu được từ đất, không khí đã tập trung với mức độ cao vào những nơi thương tật làm cho nó phát triển khác thường với những nơi khác. Vì thế mà chỗ thương tật phình ra thành bươu, mức độ lớn của bươu phụ thuộc vào khả năng hấp thụ dinh dưỡng, thời gian sinh trưởng của cây. Thường thì bướu có đường kính to hơn đường kính thân cây chủ. Nói thế không có nghĩa là muốn có nu thì tạo ra thương tích trên cây là được. Thực tế là tỷ lệ thành bướu rất thấp, có khi hàng trăm cây mới được một cây có nu, quá trình hình thành bươu tạo ra ni giống như trầm hương trên thân cây đó.

Ngày xưa khi người Pháp đến Việt Nam, họ đã biết tiềm năng nu gỗ của núi rừng nhiệt đới nước ta, họ bắt đầu tiến hành chương trình trồng cây gỗ để có thu hoạch nu vào thời gian 60 năm sau. Đầu tiên họ chọn những cây gỗ có đường kính từ 30 đến 40 cm cưa ngang mặt đất, chờ cây mọc chồi, chặt bỏ để lại 1 đến 2 chồi. Năm sau lại chặt bỏ chồi cũ giữ chồi mới, cứ thế liên tiếp trong nhiều năm, cây không chết nhưng cũng không sống bình thường được làm cho bươu phải phình ra to dần lên, trong đó là những nếp sinh trưởng không tuân theo chu trình giống vòng lõi của thân cây, mà là sự quặn thắt nhiều chiếu, không có trật tự cố định để tạo nên những vân thở khác nhau thường như hoa văn mỹ thuật đến bất ngờ, tuyệt mỹ. Nếu vẻ đẹp của vân lôi các loại gỗ là những nét màu sắc đậm nhạt theo quy luật nhất định được hình thành trên từng giai đoạn phát triển của cây, thi thoảng có chút bất ngờ nơi chia cành hoặc u bướu…thì với nu gỗ là vô vàn những nét vẽ siêu hạng, ngấu hứng của thiên nhiên.
Cũng chính vì sự phát triển sinh trưởng không tuân theo chu trình giống vòng lõi của thân cây, mà là sự quặn thắt nhiều chiều, không có trật tự cố định để tạo nên những vân thớ khác thường như hoa văn mỹ thuật đến bất ngờ, tuyệt mỹ. Nếu vẻ đẹp của vân lõi các loại gỗ là những nét màu sắc đậm nhạt theo quy luật nhất định được hình thành trên từng giai đoạn phát triển của cây, thi thoảng có chút bất ngờ nơi chia cành hoặc u bướu… thì với nu gỗ là vô vàn những họa tiết ngay trên một mặt cắt nhỏ, vân gỗ là những nét vẽ siêu hạng, ngấu hứng của thiên nhiên.
Cũng chính vì sự phát triển sinh tồn tập trung toàn bộ tính chất vào nơi xung yếu (thương tích) cần được nuôi dưỡng mà cũng đồng thời tạo nên sự cứng rắn của vật thể, khác hẳn với vật thể gỗ bình thường. Vân tạo thành đã không theo thớ lại có độ cứng rất cao nên quá trình chế tác nu gỗ là hết sức phức tạp, may mà ngày nay đã có máy móc trang bị trong một số công đoạn như đục, mài…thay cho thủ công. Giá nhân công làm trên chất liệu gỗ nu phải đắt gấp hai đến ba lần gỗ thường cùng một sản phẩm. Nếu làm bằng thủ công, số lượng đục cũng phải hỏng mất hàng chục cái sau một tác phẩm, cho dù đó phải là đục của làng rèn Đa Sĩ mới đủ sắc bén gọt gỗ nu.
Nu nếu để nguyên mộc thì những nét vân huyền bí không nổi lên hết được mà cũng phải xử lý bằng nhiều phương pháp khác nhau tùy theo nu gỗ gì. Với gỗ nói chung, dù bất kỳ gỗ quý nào được chọn để chạm khắc làm đồ mỹ nghệ. Theo kinh nghiệm xưa, người ta đem gỗ phơi sương, nghĩa là đêm phơi ngoài sương, ngày phơi trong bóng dâm, phơi đi phơi lại trong nhiều tháng trời cho đến khi nước tự nhiên trong nhiều tháng trời cho đến khi nước tự nhiên trong gỗ khô kiệt đi, khi ấy sự co ngót hoặc nứt nẻ không thể sảy ra được nữa mới thôi. Ngày nay để rút ngắn thời gian chế tác, người ta dùng phương pháp khoa học công nghệ mới là đưa vào lò sấy khô. Làm như thế không thể bằng phương pháp phơi sương. Nu khô đem chế tác lại phải chọn kiểu vần thớ cho phù hợp với yêu cầu của tác phẩm như bàn ghế, tượng, hay đồ trang trí.
Vẻ đẹp của nu không chỉ riêng những vân, thớ tạo tác bất ngờ và bắt sáng lại nổi lên như điêu khắc dù mặt nhẵn bóng, cả vùng biên ngoài cũng sẵn lên tận những nốt, u, hang hốc tự nhiên và trơ lạnh nét thời gian như đá. Nu càng dày thì vẻ đẹp càng rõ rang hơn. Có thể nói nu là những siêu phẩm gỗ với những sắc màu khác nhau và kiểu vặn mình “thêu hoa dệt gấm” đã làm cho những sản phẩm gỗ trở nên có giá trị vô cùng to lớn. Toàn bộ đồ gỗ trong nột thất dinh 3 của ông Hoàng Bảo Đại tại Đà Lạt đều được làm bằng nu. Trải qua năm tháng ngót gần thế kỷ mà các đồ gỗ nu ấy vẫn bóng mày vân, vẫn lộng lẫy như những bức tranh phong thủy nhiều màu sắc.
Ở nước ta, Nu gỗ có ở nhiều miền rừng như Tây Nguyên, Việt Bắc và trên nhiều thứ gỗ từ gỗ xưa, hương, trắc, gụ, lim, căm xe, đến nghiến. Giá trị nhất là nu gỗ xưa, mỗi kg nu gỗ xưa trên thị trường hiện đang có giá trị từ 24 đến 25 triệu đồng.

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

Gỗ Căm Xe

      Căm xe hay cẩm xe có danh pháp khoa học là Xylia xylocarpa, là cây gỗ lớn, cao trên 30m, đường kính có thể tới 1,2 m. Thân tròn thẳng, có bạnh vè lớn, lúc nhỏ cây thường cong queo. Vỏ màu nâu vàng hoặc xám đỏ. Lá kép lông chim 2 lần, có 1 đôi cuống cấp 2. Hoa nhỏ lưỡng tính, hoa tự hình cầu. Tràng hoa màu vàng, hợp gốc, cánh tràng hình dải. quả đậu hóa gỗ, hình lưỡi liềm. Khi chín tự nứt. Hệ rễ phát triển từ lúc cây còn nhỏ.
Cây phân bổ chủ yếu ở miền trung trở vào. Gỗ cứng và chắc, ở Việt Nam được xếp vào nhóm II trong bảng phân loại gỗ được xem như gỗ lim ở phía Bắc. Có giác lõi phân biệt, giác màu trắng vàng nhạt, dày, lõi màu đỏ thẫm hơi có vân, thớ gỗ mịn, nặng, tỷ trọng 1,15 (15% nước).

Sinh thái học

Cây sinh trưởng chậm, rụng lá về mùa khô. Cây ưa sáng, phân bố chủ yếu trong rừng kín thường xanh hoặc nửa rụng lá, đặc biệt là rất nhiều ở rừng khộp như vùng Buôn Đôn, Ea Súp của Đắk Lắk.
Do có đặc tính là bị sâu bộng và chết đứng khi đến một tuổi nào đó nên cây thường không lớn lắm, chỉ có đường kính phổ biến 50 cm trở xuống.


Công dụng 

Gỗ căm xe là loại gỗ tốt, rất bền, không bị mối mọt, chịu được mưa nắng, dùng đóng đồ mộc cao cấp, đóng tàu đi biển, làm tà vẹt và trong xây dựng.


Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

GỖ CẨM

Gỗ Cẩm được biết tới là Chi Họ đa dạng nhất . phổ thông nhất là Cẩm Lai kế sau là Cẩm thị . Cẩm phèo . Cẩm Nghệ . Cẩm chỉ . Cẩm thối . Cẩm sừng …
Cũng có thể chưa có tên quy định thống nhất nên Người Dân đặt tên dựa vào đặc điểm của gỗ theo từng địa phương chăng ?
Ví thử  Cẩm nghệ có mầu vàng . Cẩm Sừng mầu đen gần giông mun mặt đanh gỗ trắc nặng . Cẩm thối có mùi thum thủm tựa như Tre ngâm trong Nước thịt gỗ đen pha chút sắc bạc tựa như tàn thuốc lá … Cẩm chỉ có vân nhỏ nét như  sợi chỉ chạy vằn vện khắp mặt Gỗ …
Với cẩm lai vì là loại gỗ Cẩm phổ thông nên cũng dễ nhận biết nhất . Ở cẩm lai gỗ đanh vân đẹp giữ mầu sắc rất tốt với thời gian … Nếu nói về tính chât độ bền đẹp thì Cẩm lai còn vượt chội hơn Trắc . Nhưng vì thị trường Trung quốc ưa chuộng Trắc hơn nên cẩm lại tạm thời lép vế ….
Trên thị trường Cẩm thị được biết đến với giá trị cao nhất . Nó con cao hơn cả Mun . Tiếp theo là Cẩm lai giá tương đương với Mun hoặc nhỉnh hơn chút …
Giá chào bán gỗ cẩm lai hộp đường kính rộng cỡ 30 cm tại làng nghề Miền bắc giao động từ 8 tới 90 triệu 1m3 …
Với Cẩm thị thì sự nhân biết chính xác loại Gỗ này còn nhiều việc đòi hỏi tới chuyên gia giỏi trong nghành Lâm nghiệp . Nhưng sản phẩm Cẩm thị ở thị trường Việt Nam thường nhiều vân . Vân cẩm thị to nét hơn vân Mun Sọc . Độ tương phản đen trắng giũa vân và gỗ cũng rất rõ nét .
Cũng bởi đặc điểm ấy mà Cẩm thị thường được ưa chuộng hơn Mun là vậy …
Tại Nước bạn Lào … Gỗ Cẩm Thị được ưa chuộng nhất . Nhưng có điều khác lạ là Cẩm thị ở đây về đặc điểm hao hao giống Cẩm thị y hệt nhưng độ sắc nét thì cả Trời Vực … Cũng phải chăng do thổ nhưỡng khí hậu đã tạo ra giống Cẩm thị khác thường này chăng ….
Nhưng dù là Cẩm gì thì đã là Gỗ Cẩm . Cẩm nào cũng tốt gỗ Đanh trắc nặng ít nứt vỡ Mối mọt Chúng thuộc nhóm ưa chuộng để đóng đồ nội thất và làm Tượng …

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

GỖ HƯƠNG

Gỗ Hương: bao gồm các loại Hương đá, Dáng hương, Giáng hương, Đinh hương, Họ: Đậu Fabaceae Bộ: Đậu Fabales

Mô tả:
Cây gỗ to có tán lá hình ô, rụng lá, cao 25 - 35m, đường kính thân 0,7 - 0,9m hay hơn nữa. Gốc có  bạnh vè, thân thẳng, vỏ màu xám, bong những vảy lớn không đều hay hơi nứt dọc, có nhựa mủ đặc màu đỏ tươi chảy ra khi bị chém. Cành non mảnh, có lông, cành già nhẵn, lá kép lông chim lẻ một lần, dài 15 - 25cm; mang 9 - 11 lá chét hình bầu dục thuôn hay hình trứng - thuôn, dài 4 - 11cm, rộng 2 - 5cm, gốc tròn hoặc tù, đầu có mũi nhọn cứng, hơi có lông.

Cụm hoa hình chùy ở nách lá, phủ lông màu nâu, dài 5 - 9cm. Hoa màu vàng nghệ, có cuống dài và nhiều lông, mùi rất thơm. Quả tròn, đường kính 5 - 8cm, dẹt, có mũi cong về phía cuống, màu vàng nâu, giữa có 1 hạt, xung quanh có cánh rộng và có lông mịn như nhung.

Sinh học:
Mặc dù lượng quả sinh ra hàng năm lớn, nhưng loài tái sinh kém, có thể do lửa rừng- khả năng  tái sinh bằng chồi rất mạnh. Cây tăng trưởng về chiều cao mạnh nhất lúc 16 - 20 năm tuổi, sau đó giảm dần, tăng trưỏng về đường kính cũng mạnh từ độ tuổi 20.

Nơi sống và sinh thái:
Mọc ở độ cao dưới 700 - 800m, chủ yếu trong rừng rậm nhiệt đới nửa rụng lá, ít khi thường xanh mưa mùa hay ở ranh giới với rừng rụng lá cây họ Dầu (Diperocapaceae). Thường mọc hỗn giao với một số loài cây lá rộng khác như gõ đỏ (Afzelia xylocalpa)Muồng đen (Cassia siamensis) Bằng lăng (Lagerstromia sp.), Bình linh (Vitex sp.), Dầu trai (Dipterocarpus itricatus), Cà doong (Shorea roxburghii)Chiêu liêu (Terminalia sp.).. Cây ưa đất thoát nước, có thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, phong hóa từ các đá trầm tích và macma axit, có khi cả trên đất đỏ bazan.

Phân bố:

Trong nước: Nghệ An, Quảng Bình, Kontum (Sa Thầy), Gia Lai (Chư Prông, Mang Yang, An Khê), Đắk Nông (Đắk Mil), Phú Yên (Sơn Hoà), Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai.
Thế giới: Lào, Campuchia.

Giá trị:

Gỗ rất tốt, bền, có mùi thơm, có  màu sắc và vân hoa đẹp, không bị nứt nẻ, mối mọt, được sử dụng đóng các đồ dùng cao cấp trong gia đình, làm đồ mỹ nghệ, đồ khắc tiện. Nhựa có thể dùng làm thuốc nhuộm màu.

Tình trạng:

Gỗ quý và đẹp nên bị khai thác rất mạnh. Mặc dù khu phân bố tương đối rộng nhưng lại bị chia cắt, đồng thời nạn chặt phá rừng làm cho nơi cư trú bị xâm hại mạnh. Đối tượng này hiện trở thành rất khan hiếm, khó tìm được những cá thể trưởng thành có kích thước lớn như trước đây.

Đặc điểm chung:
Màu sắc: vàng đỏ
Mùi vị: Hương thơm nhẹ

Cách phân biệt:

Gỗ hương ngâm vào nước, nước sẽ có mầu xanh.
Gỗ hương có dầu, để lâu xuống thành màu xám.

Gỗ Giáng Hương : là loại gỗ quý( có xuất xứ từ nước Lào ), rất đẹp và có mùi thơm trong quá trình sử dụng. Gỗ có màu nâu hồng khi đã được đưa vào sử dụng theo thời gian: vân đẹp, thớ gỗ lại rất nhỏ. Bản chất của gỗ Giáng Hương là: rất cứng, rắn, chắc.
Với những nổi bật của gỗ Giáng Hương như : mùa đông ấm, mùa hè mát, không bị đổ mồ hôi do thời tiết nồm, hương thơm tự nhiên tạo nên không gian phong thủy cho người Á Đông, có lợi cho sức khỏe, 

Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2014

Gõ đỏ

Gõ đỏ, các tên gọi khác như hổ bì, cà te (danh pháp khoa học: Afzelia xylocarpa), là loài thực vật thuộc họ Đậu, mọc tại một số nước Đông Nam Á như: Thái Lan, Việt Nam, Campuchia, Lào và Myanma.
Gỗ Gõ đỏ là loại gỗ nhóm I, là một trong những loại gỗ quý. Gỗ có màu đỏ đậm, vân đẹp, thớ mịn, gỗ nặng, bền, không mối mọt, chịu được mưa nắng, có đọ cứng rất cao.
Sàn gỗ Gõ đỏ phù hợp với điều kiện thời tiết Việt Nam, hiện là loại sàn gỗ tự nhiên cao cấp được sử dụng phổ biến nhất ở Việt Nam.

Sàn gỗ Gõ Đỏ với những ưu điểm trên, rất phụ hợp với những không gian kiến trúc cổ điển, sang trọng.

Đặc điểm Gõ đỏ
Cây gỗ lớn, vỏ màu xám trắng, sần sùi nhiều. Phân cành thấp. Lá kép lông chim chẵn, phiến lá chét hình trái xoan, đầu có mũi lồi tù, đuôi gần tròn. Hoa tự hình chùm, hoa lưỡng tính, tràng hoa màu trắng, có 1 cánh, hình tròn có móng dài. Quả đậu hình bao kính. Vỏ quả khi chín hoá gỗ màu đen. Hạt hình trụ có cạnh, vỏ hạt cứng màu đen, dây rốn cứng màu vàng nhạt.
Cây sinh trưởng chậm, ưa sáng, phân bố trong rừng thường xanh hoặc rừng nửa rụng lá, mọc trên đất bằng hoặc sườn thoát nước, tầng đất sâu, thành phần cơ giới của đất trung bình.

Gõ đỏ

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2014

GỖ TỰ NHIÊN

Gỗ tự nhiên bao gồm hai loại gỗ rừng tự nhiên và gỗ rừng trồng: gỗ cao su, gỗ tràm, gỗ đỏ, gỗ căm xe, gỗ sồi ....

Phân nhóm gỗ theo 06 loại để gia công như sau:

Nhóm 1: Cẩm lai, dáng hương, gõ đỏ ( cà te). gụ ( gõ mật), trắc, huỳnh đường, hoàng đàn.
Nhóm 2: Cẩm xe, đinh, lim xanh, sến, kiền kiền, nghiến, sao, săng mã, xương cá.
Nhóm 3: Bằng lăng, dầu gió, chò các loại, bạch đàn, cám, gáo vàng.
Nhóm 4: Vên vên, tràm  bông vàng, dầu rái, trám, thông nhựa.
Nhóm 5: Gia ty. (Teech), thông 3 lá, cao su, mò cua, bạch tùng, cồng, lòng mức, thị rừng, điều, xoài                  vườn
Nhóm 6: Gỗ cao su, gỗ tràm, gỗ thông, gỗ điều, gỗ mít

Gõ đỏ

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2014

GỖ CÔNG NGHIỆP

         Gỗ công nghiệp hay còn gọi llà loại gỗ nhân tạo, được sử dụng keo hoặc hoá chất kết nồi với nhau. : gỗ MFC, gỗ MDF, gỗ dán, gỗ ghép…  Hầu hết gỗ công nghiệp được làm từ nguyên liệu tận dụng, tái sinh hay cành ngọn của gỗ rừng trồng để sản xuất. Thành phần chính vẫn là dăm gỗ (để sản xuất ván dăm), sợi gỗ (để sản xuất ván MDF), các lớp gỗ mỏng (để sản xuất ván ép, gỗ dán), các miếng gỗ nhỏ (dùng để sản xuất gỗ ghép), tên quốc tế của gỗ công nghiệp là Wood-Based Panel.


gỗ tự nhiên
GỖ CÔNG NGHIỆP




Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2014

GỖ GHÉP

         Gỗ ghép, hay còn gọi là ván ghép, dùng nguyên liệu chính là những thanh gỗ nhỏ (gỗ tận dụng) đã qua xử lý tẩm chống mối mọt và sấy khô với độ ẩm dưới 12%. Gỗ ghép  được sản xuất theo dây chuyền như sau: bào, đánh finger, ghép đầu, lựa màu, rong cạnh, ghép ngang, trà nhám thùng, trám chét xử lý bề mặt, đóng gói. Gỗ ghép sử dụng hai loại nguyên liệu chính phôi gỗ và keo sữa. Phôi gỗ thường được sử dụng là gỗ cao su, tràm, sồi, xà cừ, gỗ thông…Gỗ ghép thanh được sử dụng rộng rãi trong nội thất làm mặt bàn, mặt ghế, cánh tủ, hộc tủ…

GỖ GHÉP CAO SU MỘNG NẰM


 

  Bài viết liên quan
  1. Ván MDF
  2. Gỗ ghép cao su
  3. Gỗ ép

    Ván ghép thanh (còn gọi gỗ ghép) được sản xuất từ nguyên liệu chính là gỗ rừng trồng. Những thanh gỗ nhỏ đã qua xử lý hấp sấy, trên dây chuyền công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, gỗ được cưa, bào, phay, ghép, ép, chà và sơn phủ trang trí. Ván ghép thanh được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực sản xuất đồ mộc, trang trí nội thất, sản xuất ván sàn và nhiều sản phẩm khác.
  4. Có bốn cách thức gỗ ghép: song song, mặt, cạnh, giác. Gỗ ghép song gồm nhiều thanh gỗ cùng chiều dài, có thể khác chiều rộng, ghép song song với nhau. Gỗ ghép mặt gồm nhiều thanh gỗ ngắn, ở hai đầu được xẻ theo hình răng lược rồi ghép lại thành những thanh có chiều dài bằng nhau, rồi tiếp tục ghép song song các thanh, cho nên chỉ nhìn thấy vết ghép hình răng lược trên bề mặt ván.

Ván ghép thanh (còn gọi gỗ ghép) được sản xuất từ nguyên liệu chính là gỗ rừng trồng. Những thanh gỗ nhỏ đã qua xử lý hấp sấy, trên dây chuyền công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, gỗ được cưa, bào, phay, ghép, ép, chà và sơn phủ trang trí. Ván ghép thanh được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực sản xuất đồ mộc, trang trí nội thất, sản xuất ván sàn và nhiều sản phẩm khác.
Có bốn cách thức gỗ ghép: song song, mặt, cạnh, giác. Gỗ ghép song gồm nhiều thanh gỗ cùng chiều dài, có thể khác chiều rộng, ghép song song với nhau. Gỗ ghép mặt gồm nhiều thanh gỗ ngắn, ở hai đầu được xẻ theo hình răng lược rồi ghép lại thành những thanh có chiều dài bằng nhau, rồi tiếp tục ghép song song các thanh, cho nên chỉ nhìn thấy vết ghép hình răng lược trên bề mặt ván.
Ván ghép thanh (còn gọi gỗ ghép) được sản xuất từ nguyên liệu chính là gỗ rừng trồng. Những thanh gỗ nhỏ đã qua xử lý hấp sấy, trên dây chuyền công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, gỗ được cưa, bào, phay, ghép, ép, chà và sơn phủ trang trí. Ván ghép thanh được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực sản xuất đồ mộc, trang trí nội thất, sản xuất ván sàn và nhiều sản phẩm khác.
Có bốn cách thức gỗ ghép: song song, mặt, cạnh, giác. Gỗ ghép song gồm nhiều thanh gỗ cùng chiều dài, có thể khác chiều rộng, ghép song song với nhau. Gỗ ghép mặt gồm nhiều thanh gỗ ngắn, ở hai đầu được xẻ theo hình răng lược rồi ghép lại thành những thanh có chiều dài bằng nhau, rồi tiếp tục ghép song song các thanh, cho nên chỉ nhìn thấy vết ghép hình răng lược trên bề mặt ván.
- See more at: http://hoanganhtrungdo.com/san-pham-73/go-ghep-van-ghep-80.html#sthash.aX9ZB5Ep.dpuf